Phương pháp Cesium (High pH therapy) || Bệnh Ung thư

Phương pháp này dựa trên quan điểm của giáo sư Otto Warburg về tế bào kỵ khí (anaerobic cancer cells) đã được nói trong chương 1. Tế bào thường chuyển thành tế bào ung thư trong môi trường thiếu ôxy, mà sự thiếu oxy xảy ra do môi trường tế bào có tính axit cao.

Người đầu tiên sử dụng cesium trong việc chữa ung thư là giáo sư Keith Brewer, sinh năm 1893. Ông tập trung nghiên cứu về màng tế bào, và kết luận rằng: tế bào ung thư hấp thụ cesium rất nhanh một cách dễ dàng (NKH: đ/n thay “rất nhanh một cách dễ dàng” bằng “rất nhanh và dễ dàng”) Ông phát triển phương pháp chữa ung thư bằng cesium – vì đây là loại khoáng chất hiện tồn tại có tính kiềm cao nhất. Vào cuối những năm 1970, ông bắt đầu thử nghiệm chữa ung thư cho động vật, đầu tiên là bằng rubidium (có tinh kiềm cao thứ nhì - chỉ sau cesium), sau đó thì sử dụng muối cesium. Các đợt thử nghiệm đều chứng minh rằng việc sử dụng khoáng chất có tính kiềm cao (rubidium và cesium) rất hiệu quả trong việc chữa ung thư của chuột, khối u giảm rõ rệt chỉ trong vòng 2 tuần. Vào năm 1981, ông bắt đầu thử nghiệm việc dùng rubilium và cesium để chữa cho nhưng bệnh nhân ung thư gia đoạn cuối, khi tất cả các bác sĩ đã xác định là không còn làm gì được nữa. Trong một lần thử nghiệm với 50 bệnh nhân gia đoạn cuối, kéo dài trong 3 năm, trong đó 47 bệnh nhân đã qua liều tối đa của hóa trị và xạ trị, 3 bệnh nhân đã hôn mê. Ba ngày sau khi bắt đầu với cesium, 47 bệnh nhân còn tỉnh đều xác nhận là hết đau (sau 1 đến 3 ngày), 3 bệnh nhân chết trong vòng 2 tuần (vì ung thư đã quá nặng và di căn khắp nơi trong cơ thể). Sau 3 năm, 25 bệnh nhân vẫn sống, và đây quả là một điều kỳ diệu: cả 50 bệnh nhân đều được đoán là chỉ còn sống vài tuần, trước khi bắt đầu chữa với cesium. Đối với những bệnh nhân chết trong vòng ba năm, các khối u đều nhỏ đi rõ rệt.

Phương pháp này thường phải thực hiện với sự theo dõi của bác sĩ, vì khi sử dụng liều cao cesium, cơ thể sẽ thiếu hụt potassium. Sự thiếu hụt trầm trọng potassium rất nguy hiểm và có thể dẫn tới cái chết do trụy tim. Tỉ lệ bình thường giữa potassium/cesium khi dùng phương pháp này là 3:1, nhưng với những bệnh nhân có bệnh về tim mạch, nên tăng tỉ lệ lên đến 5-6/1. Trước đây, cesium thường được dùng dưới dạng bột và viên. Hiện nay, cesium dưới dạng dung dịch ion hóa được sử dụng thông dụng hơn, vì mức độ an toàn cao do cơ thể dễ hấp thụ, nên có thể sử dụng với tỉ lệ thấp hơn để có được tác dụng tương tự. Potassium cũng luôn được bán kèm với cesium. Khi dùng phương pháp này, bệnh nhân được khuyến cáo phải thử máu thường xuyên để đo mức độ potassium trong máu. Ngay cả sau khi đã ngừng uống secium, bệnh nhân nên tiếp tục dùng potassium và thử máu trong vòng 2-3 tháng, vì cesium cần thời gian để được thải ra khỏi cơ thể.

Phương pháp cesium rất an toàn với hiệu quả cao, nhưng có một số phản ứng phụ: nó có thể gây khó chịu dạ dày, buồn nôn và tiêu chảy. Do vậy, luôn phải uống sau khi ăn. Bệnh nhân cũng có thể bị cám giác tê môi và sống mũi trong khoảng 20 phút sau khi uống

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Chiêu sinh các lớp Yoga cơ bản và văn phòng tháng 8 năm 2019 || Khóa học Yoga

Học Yoga ở đâu Quận 7?

Thải độc đại tràng tại nhà với bộ thải độc đầy đủ || Thanh lọc Thân

Thải độc đại tràng bằng cà phê hữu cơ. || Thanh lọc Thân

Học Yoga ở đâu Quận 2?

Học Yoga ở đâu Quận 4?

Học Yoga ở đâu Quận 1

BÀI VIẾT NHIỀU NGƯỜI XEM

Chiêu sinh các lớp Yoga cơ bản và văn phòng tháng 8 năm 2019 || Khóa học Yoga

Học Yoga ở đâu Quận 7?

Thải độc đại tràng bằng cà phê hữu cơ. || Thanh lọc Thân